Chủ nhật, 26-10-2014 - 07:35

Thông tin chung

Phác thảo phân kỳ 85 năm báo chí cách mạng Việt Nam

Có thể nói báo chí Việt Nam ra đời do nhu cầu tất yếu và cấp bách của cuộc cách mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc khỏi ách ngoại xâm và sự đô hộ của đế quốc, phong kiến, mang lại tự do, hoà bình và cơm no, áo ấm cho nhân dân. Vì thế, báo chí cách mạng đã đồng hành với lịch sử dân tộc 85 năm qua, lịch sử báo chí cách mạng cũng gắn bó hữu cơ, thực sự là một bộ phận không thể tách rời của tiến trình cách mạng 85 năm qua.

 

Từ cách nhìn như thế, có thể phân kỳ lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam thành các thời kỳ: 

- Thời kỳ vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam,

- Thời kỳ 1930 – 1945,

- Thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954,

- Thời kỳ xây dựng CNXH ở miền Bắc và chiến tranh chống Mỹ cứu nước  1955 – 1975,

- Thời kỳ 1976 đến nay.

1. Báo chí cách mạng Việt Nam thời kỳ vận động thành lập Đảng 1925 - 1930 ra đời và hoạt động trong hoàn cảnh rất khó khăn. Bọn thực dân xâm lược câu kết với bộ máy phong kiến thiết lập một hệ thống cai trị xã hội khắc nghiệt, đàn áp  không thương tiếc mọi mầm mống cách mạng đe doạ sự thống trị của chúng. Những tổ chức cách mạng ở nước ngoài đã xuất bản một loạt tờ báo như: Thanh niên, Đỏ, Công nông, Lính kách mệnh, Đồng thanh, Thân ái, v.v..  ở trong nước, trong điều kiện vô cùng khó khăn nguy hiểm do sự kiểm duyệt, đàn áp, bắt bớ của chính quyền thực dân và tay sai, nhiều tờ báo của các tổ chức cách mạng vẫn được xuất bản và bí mật lưu hành như: Búa liềm, Cờ Cộng sản, Nhân loại của Đông Dương Cộng sản Đảng, Cờ đỏ của An Nam Cộng sản Đảng, Sao đỏ ở Hải Phòng, Mỏ than ở Hồng Quảng, Tia sáng ở Nam Định, Bôn-sê-vích ở Trung Kỳ. Những tờ báo này không chỉ mang đến cho một bộ phận quần chúng cách mạng những hiểu biết cơ bản nhất về Chủ nghĩa Mác-Lênin, về con đường giải phóng dân tộc, mà nó còn mang đến cho những người dân nô lệ một niềm tin, sự động viên to lớn để lựa chọn, dấn thân vào con đường cách mạng, con đường đấu tranh giải phóng cho mình.

Tờ báo có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong thời kỳ này là Thanh niên do Nguyễn ái Quốc sáng lập, trực tiếp viết bài, biên tập và tổ chức in ấn. Thanh niên được coi là cơ quan của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, một tổ chức cách mạng tiền thân của Đảng Cộng sản, đồng thời là tờ báo khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam. Báo Thanh niên trở thành tờ báo đầu tiên của những người cách mạng, xuất bản bằng chữ quốc ngữ, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc vào Việt Nam. Báo Thanh niên còn đóng vai trò là một trường học, đào tạo những cán bộ cách mạng để đưa về trong nước vận động quần chúng, giáo dục, chuẩn bị lực lượng tiến tới thành lập Đảng Cộng sản.

2. Báo chí cách mạng Việt Nam thời kỳ 1930 – 1945 gắn bó chặt chẽ với những cao trào vận động cách mạng trong thời kỳ này: 1930 – 1931 - đỉnh cao là Xô-Viết Nghệ Tĩnh, 1936 – 1939 – Mặt trận dân chủ và 1941 – 1945 – vận động tiến tới Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và thực dân Pháp, xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á. Trong cao trào 1930-1931, các tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương đều xuất bản báo để làm công cụ tuyên truyền vận động. Các tờ báo này đều được xuất bản dưới hình thức rất thô sơ, chủ yếu là viết tay in giấy sáp, hoặc in thạch. Nếu các sản phẩm báo chí xuất hiện trong cao trào 1930 – 1931 chủ yếu dưới hình thức bí mật, thì trong cao trào Mặt trận dân chủ, Đảng đã chớp lấy thời cơ, tổ chức ra báo công khai hoặc đưa cán bộ tham gia làm các báo đã có để tranh thủ khả năng mở rộng quy mô tác động vào quần chúng nhân dân, tuyên truyền vận động lực lượng cách mạng. Các tổ chức Đảng ở các địa phương đã trực tiếp tổ chức ra các báo: Travaille, Avant Garde, Peuple, Dân chúng, Tin tức, Đời nay, Dân,  Dân tiến, Ngày mới, Nhành lúa v.v.

Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước và một trong những việc làm đầu tiên của Người là ra tờ báo Việt Nam độc lập là cơ quan tuyên truyền vận động cách mạng. Theo Người, việc ra báo Việt Nam độc lập là làm theo lời dạy của Lênin: Tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo (Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ hai, Hội nhà báo Việt Nam). Việt Nam độc lập trở thành cơ quan của Mặt trận Việt Minh ba tỉnh Cao – Bắc – Lạng. Cùng với Việt Nam độc lập còn có Tạp chí Cộng sản, báo Giải phóng, Cờ giải phóng, Cứu quốc, Lao động, Bẻ xiềng sắt v.v.. Hệ thống báo chí cách mạng thời kỳ này đã truyền bá những tư tưởng của cách mạng giải phóng, cổ vũ, động viên lòng yêu nước căm thù thực dân đế quốc xâm lược và giai cấp phong kiến bóc lột, góp phần tổ chức quần chúng cách mạng, chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi.

Ngoài hệ thống báo chí công khai hoặc bí mật, thời kỳ này còn xuất hiện các tờ báo trong tù. Hầu như ở nhà tù nào, các chiến sỹ cộng sản và những người  cách mạng yêu nước cũng tìm cách để ra được báo. Các tờ báo trong các nhà tù như: Con đường chính, Lao tù đỏ, Lao tù tạp chí của tổ chức Đảng Cộng sản ở nhà tù Hoả Lò, Xiềng xích của tù chính trị ở nhà tù Buôn Ma Thuột, Nẻo nhà pha của tù chính trị nhà tù Quảng Ngãi, Người tù đỏ, Người tù nhân, Tiền phong của tù cộng sản ở Côn Đảo, Tiến lên của tù chính trị ở nhà tù Quảng Trị v.v.. được chép tay với vài ba bản, thậm chí mỗi số chỉ có một bản duy nhất, được lưu hành bí mật trong điều kiện kiểm soát gắt gao, khắc nghiệt của cai ngục.  Có những tờ báo trong nhà tù nhưng đã có thời gian tồn tại tương đối dài, để lại ấn tượng mạnh, có tác động tích cực đến phong trào đấu tranh như tờ Suối reo ở nhà tù Sơn la. Mặc dù phạm vi lưu hành hạn hẹp trong các bức tường nhà tù đế quốc thực dân nhưng những tờ báo này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, củng cố ý chí và niềm tin, giữ vững tinh thần chiến đấu cho những cán bộ cách mạng bị tù đày.

3. Báo chí cách mạng thời kỳ 1945 – 1954 là một bộ phận không thể thiếu của cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945 cũng như tiến trình của cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ. Với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền về tay nhân dân và báo chí có thời cơ phát triển mới. Chế độ mới, nền độc lập tự do cùng những nhiệm vụ mới mẻ của cách mạng đặt ra cho báo chí những trách nhiệm mới nặng nề hơn, tầm hoạt động mới rộng lớn hơn. Sự ra đời của Đài phát thanh và Hãng thông tấn quốc gia đã mang lại không chỉ sự thay đổi diện mạo mà cả chất lượng hoạt động mới cho hệ thống báo chí cách mạng. Khi cuộc Kháng chiến chống Pháp nổ ra, cả hệ thống báo chí ấy đã lên đường đi kháng chiến, lên chiến khu Việt Bắc, vào bưng biền Đồng Tháp, tới các chiến khu, trở thành nguồn thông tin chính yếu, nguồn động viên cổ vũ mạnh mẽ, vũ khí tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cách mạng của Đảng, của dân tộc. Chính trong thử thách khắc nghiệt của kháng chiến, một loạt cơ quan báo chí mới đã ra đời – Sự thật, Nhân dân, Văn nghệ, Quân đội nhân dân, Đài tiếng nói Nam bộ, báo Nhân dân miền Nam, Lao động, Tiền phong v.v.

Những người làm báo cách mạng trong kháng chiến chống Pháp đã chia sẻ khó khăn, gian khổ, hy sinh cùng nhân dân, quân đội, đã không chỉ duy trì phát triển, đưa nguồn thông tin, tiếng nói của cách mạng, của kháng chiến đến với  đồng bào chiến sỹ trong nước và bè bạn quốc tế mà còn gùi vác, vận chuyển cả chục tấn máy in, máy phát trên vai, trực tiếp cầm súng chống càn như những người chiến sỹ. Bằng trí tuệ, tài năng, lòng yêu nước và cả máu, mồ hôi, những người làm báo kháng chiến đã hoàn thành trách nhiệm của mình, đóng góp xứng đáng vào chiến thắng chung của cả dân tộc - đánh bại thực dân xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

4. Báo chí cách mạng thời kỳ 1955 – 1975 đã có cơ hội thuận lợi hơn để phát triển nhưng cũng phải đối mặt với những khó khăn, thử thách vô cùng khắc nghiệt. Miền Bắc giải phóng bước vào thời kỳ xây dựng CNXH nhưng chưa hết một kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đã phải đối mặt với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân  của đế quốc Mỹ với mức độ ác liệt và dã man chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh. Một nửa Tổ quốc – miền Nam nằm dưới sự đô hộ của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng bảo vệ CNXH ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc xâm lược, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Ngoài một thời gian ngắn miền Bắc có hoà bình sau hiệp định Giơ-ne-vơ, còn lại trên thực tế suốt cả thời kỳ này cả nước đều có chiến tranh.

Trong thời kỳ này, trong nước có hai bộ phận báo chí cùng hướng tới mục tiêu đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Đó là bộ phận báo chí cách mạng ở miền Bắc được phát triển trong điều kiện của chế độ dân chủ nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và bộ phận báo chí cách mạng ở miền Nam, phát triển trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn của chiến tranh và sự khủng bố, đàn áp của đội quân xâm lược Mỹ cùng chế độ Nguỵ quyền Sài Gòn. Riêng miền Bắc, vào thời điểm trước thềm Đại hội lần thứ 3 Hội nhà báo Việt Nam (1962), đã có 1500 nhà báo làm việc trong khoảng 120 cơ quan báo chí các loại. Báo chí thời kỳ này đã thực sự trở thành động lực góp phần to lớn trong việc tạo dựng và tổ chức những phong trào thi đua, những cuộc vận động rầm rộ  trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị như: Sóng Duyên Hải, Gió Đại Phong, Cờ ba nhất, Thanh niên ba sẵn sàng, Phụ nữ ba đảm đang, Thi đua hai tốt, HTX 5 tấn v.v Những tấm gương điển hình trong lao động, chiến đấu được báo chí tuyên truyền, khái quát thành những biểu tượng có sức động viên, cổ vũ mạnh mẽ.

Báo chí cách mạng ở miền Nam – như Báo chí tiền phương đã bám sát thực tế chiến đấu, có mặt ngay tại các chiến hào, tại các mặt trận ác liệt nhất, phản ánh sinh động, kịp thời cuộc chiến đấu anh hùng của đồng bào, chiến sỹ ta. Các nhà báo tiền phương thực sự là những chiến sỹ ra trận, vừa cầm súng, vừa cầm bút, cầm máy ảnh, máy quay phim, đóng góp xứng đáng vào chiến thắng chung của dân tộc trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Cùng với báo chí cách mạng hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, Mặt trận, lực lượng báo chí của những người yêu nước ở các đô thị miền Nam cũng đã góp tiếng nói đáng kể trong việc động viên lòng yêu nước, tự hào dân tộc, giống nòi, ủng hộ và cổ vũ cho những cuộc đấu tranh yêu nước hợp pháp của các tầng lớp nhân dân.

5. Báo chí Việt Nam từ 1975 đến nay trở thành nền báo chí duy nhất của nước Việt Nam dân chủ, tự do, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước. Sau năm 1975 – Tổ quốc thống nhất, non sông thu về một mối, báo chí cách mạng Việt Nam cũng được hưởng niềm vui tự do, thống nhất, có điều kiện phát triển toàn diện cũng như phân bố rộng khắp trong các vùng của cả nước. Cùng cả dân tộc vượt qua những khó khăn thử thách của cuộc Chiến tranh biên giới Tây Nam, Chiến tranh biên giới phía Bắc và sự chống phá quyết liệt của kẻ thù, báo chí lại có mặt ở những điểm nóng nhất của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, trở thành bà đỡ cho những cuộc cách mạng thực sự trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Sự ra đời của của cơ chế khoán 100 năm 1981 và khoán 10 năm 1987, sự đổi mới cơ chế quản lý trong các cơ sở sản xuất công nghiệp, dịch vụ cũng như quá trình chuẩn bị cho sự ra đời của chính sách đổi mới của Đảng không thể tách rời vai trò và đóng góp vô cùng quan trọng của báo chí trong việc thông tin, phản ánh thực trạng và các sáng kiến, phát hiện các vấn đề, các nhân tố mới tích cực, những đốm sáng trong thực tiễn lao động sản xuất của nhân dân. Đến lượt nó, chính sách đổi mới của Đảng đã tạo ra điều kiện, thời cơ cho sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế – xã hội, đồng thời mang lại cơ hội lớn cho báo chí. Chỉ trong khoảng 20 năm đổi mới, nền báo chí đất nước đã lớn lên cả chục lần, đã có những bước phát triển chưa từng thấy về kỹ thuật công nghệ, về quy mô ảnh hưởng cũng như trình độ tác nghiệp. ở một số bình diện cụ thể, báo chí Việt Nam đã bắt kịp trình độ phát triển hiện đại, hội nhập với các đồng nghiệp khu vực và quốc tế.

Trên phạm vi cả nước, chúng ta đã có gần 14.000 nhà báo chuyên nghiệp cùng hàng chục nghìn cán bộ kỹ thuật, dịch vụ làm việc trong các loại hình báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử, thông tấn xã với trên 600 tên báo, tạp chí, gần 1.000 bản tin, phụ trương các loại, hệ thống đài phát thanh, truyền hình quốc gia và 64 tỉnh, thành phố, hàng trăm tờ báo mạng điện tử với gần 7% dân số sử dụng internet. Nền báo chí ngày càng giữ vai trò to lớn, không thể thiếu trong đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội của đất nước. Báo chí không chỉ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, tuyên truyền, giải thích vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách, mà còn là trường học rộng lớn nâng cao dân trí, mở mang quan hệ quốc tế, định hướng chính trị tư tưởng cho nhân dân trước các sự kiện, vấn đề mới mẻ trong nước cũng như quốc tế.  Trong mặt trận chống tiêu cực, báo chí như những người chiến sỹ tiên phong, dũng cảm phát hiện vạch trần nhiều vụ việc, góp phần ngăn chặn thiệt hại cho nhà nước, nhân dân, gióng lên những tiếng chuông cảnh tỉnh, giáo dục đối với xã hội.

Tuy nhiên, báo chí của chúng ta hiện nay vẫn còn bộc lộ không ít những hạn chế. Đó là xu hướng chạy theo những mục đích thương mại hoá, không thực hiện nghiêm túc tôn chỉ, mục đích, còn có hiện tượng đưa tin thiếu chính xác hay lợi dụng hoạt động báo chí để thực hiện những mục đích cá nhân, đưa tin thiếu cảnh giác gây tác hại đến lợi ích của đất nước hay các đơn vị kinh tế v.v. Còn có những sản phẩm báo chí có chất lượng thấp, chạy theo thị hiếu tầm thường, không yên tâm thậm chí ảnh hưởng không tốt đến môi trường giáo dục thanh – thiếu niên.

Mỗi thời kỳ phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam trong 80 năm qua không chỉ chịu sự chi phối có tính phụ thuộc vào đặc điểm tình hình, vào yêu cầu của việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cách mạng, mà còn là tấm gương phản chiếu trung thực, khách quan, còn trở thành một lực lượng đáng kể, một động lực phát triển quan trọng của từng sự kiện, biến cố cũng như toàn bộ tiến trình lịch sử của đất nước. Vì thế có thể nói, việc phân kỳ lịch sử báo chí cách mạng theo các giai đoạn của tiến trình lịch sử dân tộc là phương pháp phổ biến, hợp lý và dễ chấp nhận. Nó cho phép  nhìn nhận, đánh giá khách quan, đúng đắn diện mạo, đặc điểm cũng như vai trò của báo chí đối với thực tiễn lịch sử.

  

PGS.TS Tạ Ngọc Tấn

(Học viện Báo chí và Tuyên truyền)